- Chỉ số DXY duy trì ngay trên 99,50 trong biên độ dao động chỉ 17 pip của phiên giao dịch.
- Xác suất Fed tăng lãi suất vào tháng 12 đã giảm xuống còn 67%, so với mức được thị trường dự báo chắc chắn vào ngày 10 tháng 8.
- Lợi suất trái phiếu kỳ hạn dài đang ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ tại cả Tokyo, Berlin và Paris.
Mức lợi suất trái phiếu dài hạn của Mỹ cao nhất trong gần hai thập kỷ qua chỉ tác động khiến Chỉ số Đô la Mỹ (DXY) thay đổi 0,03 điểm. Giá giao ngay duy trì ngay trên mức 99,50 vào thứ Ba sau khi dao động trong biên độ 17 pip, vẫn nằm dưới đường trung bình động hàm mũ (EMA) 200 ngày đang đi ngang tại vùng 99,75 mức cản đã chặn đứng mọi nỗ lực bứt phá trong suốt hai tuần qua.
Khoảng chênh lệch lãi suất chưa bao giờ xuất hiện
Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 30 năm ở mức khoảng 5,3% mức cao nhất kể từ tháng 6 năm 2007 lẽ ra đã là một câu chuyện riêng biệt tác động đến đồng Đô la. Tuy nhiên, trong trường hợp này thì không, bởi vì sự biến động tương tự đang diễn ra ở khắp mọi nơi. Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Nhật Bản đang ở mức cao nhất trong ba thập kỷ; trái phiếu kỳ hạn 30 năm của Đức đạt mức cao nhất kể từ năm 2011 và của Pháp ở mức chưa từng thấy kể từ năm 2008; trong khi lợi suất tại Anh, Ý, Thụy Sĩ và Canada cũng đều tăng cao.
Tỷ giá tiền tệ là giá trị tương đối, trong khi đây lại là một sự thay đổi mang tính tuyệt đối. Lợi suất chỉ đẩy giá trị đồng tiền lên khi nó tăng nhanh hơn so với đồng tiền còn lại trong cặp tiền này; việc chênh lệch kỳ hạn nới rộng đồng loạt trên toàn cầu không tạo ra lợi thế chênh lệch nào cho bất kỳ đồng tiền cụ thể nào. Chỉ số này có tỷ trọng đồng Euro chiếm 57,6%, do đó việc bán tháo trái phiếu dài hạn của Đức diễn ra song song với trái phiếu Mỹ sẽ triệt tiêu tác động của hơn một nửa rổ tiền tệ trước khi tính đến năm đồng tiền còn lại.
Yếu tố Nhật Bản thậm chí còn gây tác động tiêu cực hơn là trung tính. Với tỷ trọng 13,6%, việc trái phiếu trong nước mang lại lợi suất cao nhất trong ba mươi năm qua tạo lý do để nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới quay trở về thay vì được dùng cho các giao dịch chênh lệch lãi suất. Nếu cộng thêm tỷ trọng của đồng Bảng Anh và Đô la Canada những đồng tiền cũng có lợi suất trái phiếu dài hạn tăng cao gần đây thì hơn 80% rổ tiền tệ đang được định giá lại bởi cùng một lực tác động.
Yếu tố duy nhất thúc đẩy đồng USD đang diễn biến theo chiều hướng bất lợi
Kỳ vọng về chính sách là yếu tố định giá tiền tệ một cách đáng tin cậy, và hiện tại các kỳ vọng này đang diễn biến bất lợi cho đồng Đô la. Xác suất có điều kiện cho thấy khả năng giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp ngày 16 tháng 9 là 65,4%, ngày 28 tháng 10 là 52,4% và ngày 9 tháng 12 là 33,0%. Trong khi đó, vào ngày 10 tháng 8, thị trường từng định giá việc tăng lãi suất vào tháng 12 là điều chắc chắn.
Khoảng một phần ba mức thắt chặt lãi suất dự kiến cuối cùng đã bị loại bỏ chỉ trong tám ngày; đồng thời, cột dự báo lãi suất thấp hơn biên độ hiện tại vẫn trống ở mọi cuộc họp năm 2026 và không ghi nhận dữ liệu nào cho đến tận năm 2027. Đây không phải là sự khởi đầu của một chu kỳ nới lỏng chính sách, mà là sự trì hoãn chu kỳ tăng lãi suất. Điều này tước bỏ lợi thế từ chênh lệch lãi suất của đồng Đô la nhưng lại không mang đến nỗi lo ngại về tăng trưởng kinh tế để đồng tiền này có thể trú ẩn.
Các dữ liệu công bố hôm thứ Ba càng củng cố cho kịch bản trì hoãn này. Số lượng nhà ở khởi công tháng 7 đạt 1,239 triệu căn, thấp hơn mức dự báo 1,35 triệu và mức 1,415 triệu của tháng trước; doanh số bán nhà chờ hoàn tất thủ tục giảm 2,3% trái ngược với dự báo tăng 0,3%; và sản xuất công nghiệp tăng 0,2% thấp hơn mức dự báo 0,3%. Chỉ số sản xuất Empire State tháng 8 công bố hôm thứ Hai là dữ liệu duy nhất vượt kỳ vọng đạt 20,6 so với mức dự báo 11, nhưng sự lạc quan trong các cuộc khảo sát không phải là yếu tố mà thị trường lãi suất phản ánh vào giá.
Nhu cầu tài sản trú ẩn an toàn cũng không xuất hiện
Khẩu vị rủi ro đã suy giảm trong các phiên giao dịch tại châu Á và châu Âu do cùng những tin tức đã đẩy lợi suất trái phiếu dài hạn lên cao; giá dầu thô vượt mốc 85,00$ sau khi Washington xác nhận không có cuộc đàm phán nào với Iran đang diễn ra hay được lên kế hoạch, đồng thời lệnh phong tỏa hải quân vẫn được duy trì. Xét theo các mô hình tương quan trong 5 năm qua, đây là sự kết hợp thường hỗ trợ đồng USD tăng giá, tuy nhiên chỉ số USD lại không có biến động đáng kể.
Biên độ dao động chỉ 17 pip trong bối cảnh đó không phải là sự bình lặng, mà cho thấy một thị trường đã cạn kiệt động lực thể hiện xu hướng mới; trước đó, đồng USD đã bị bán tháo từ mức đỉnh gần 101,75 vào cuối tháng 6 và rơi vào giai đoạn biến động giằng co suốt hai tuần quanh đường trung bình động hàm mũ (EMA) 200 ngày. Chỉ số Stoch RSI khung ngày đang ở mức gần 14, duy trì tại vùng đáy trong tuần thứ hai liên tiếp mà không có nhịp hồi phục nào; điều này phản ánh tâm lý kiên nhẫn của phe bán thay vì sự kiệt sức.
Những sự kiện đáng chú ý còn lại trong tuần này
Biên bản cuộc họp ngày 28-29 tháng 7 của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) sẽ được công bố vào lúc 18:00 GMT thứ Tư và là sự kiện quan trọng hàng đầu trong tuần. Tại cuộc họp đó, ba chủ tịch ngân hàng dự trữ khu vực đã bỏ phiếu bất đồng quan điểm khi ủng hộ mức tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm; trong ba tuần qua, thị trường đã loại bỏ kỳ vọng về mức tăng này, do đó nội dung biên bản sẽ là thước đo cho thấy mức độ cô lập thực sự của nhóm quan điểm này.
Ngày thứ Năm sẽ có dữ liệu về số đơn yêu cầu trợ cấp thất nghiệp lần đầu với dự báo đồng thuận là 210.000 so với mức 209.000 trước đó và kết quả khảo sát sản xuất của Fed Philadelphia dự kiến giảm gần một nửa, từ 41,4 xuống còn 25. Các số liệu sơ bộ về Chỉ số Nhà quản trị Mua hàng (PMI) tháng 8 công bố vào thứ Sáu là sự kiện quan trọng thứ hai trong tuần và là khảo sát duy nhất có đủ sức ảnh hưởng để tác động đến định giá thị trường cho tháng 9; theo dự báo, chỉ số PMI ngành sản xuất sẽ ở mức 53,8 so với 53,9 trước đó và PMI ngành dịch vụ ở mức 54 so với 54,6 trước đó.
Các mức của Chỉ số Đô la
Kháng cự: Đường EMA 200 ngày tại vùng 99,75 đóng vai trò là ngưỡng kháng cự tức thời; phía trên đó là mốc 100,00, và tiếp đến là đường EMA 50 ngày đang dốc xuống tại vùng 100,25 ngưỡng cần vượt qua để chấm dứt xu hướng giảm hiện tại.
Hỗ trợ: Mức 99,50 đang là đáy của phiên giao dịch; nếu mức này bị phá vỡ, giá có thể hướng về 99,25, với mục tiêu tiếp theo nằm ở vùng đáy cuối tháng 5 quanh 98,75.
Xu hướng: Giảm. Đồng Đô la đang mất đi lợi thế duy nhất về chênh lệch lãi suất trong khi lợi suất trái phiếu dài hạn toàn cầu biến động đồng bộ; ngoài ra, việc giá dao động trong biên độ hẹp 17 pip ngay dưới đường EMA 200 ngày đang đi ngang cho thấy sự nén giá có khả năng dẫn đến đợt giảm tiếp theo thay vì hình thành vùng đáy. Kịch bản này sẽ bị vô hiệu nếu giá đóng cửa ngày trên 100,25.
Biểu đồ hàng ngày của DXY

Câu hỏi thường gặp về Đô la Mỹ
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.
