VG Markets Tải xuống

Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng sau thông báo mua lại, lợi suất kỳ hạn 30 năm chạm 5,30%

Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng sau thông báo mua lại, lợi suất kỳ hạn 30 năm chạm 5,30%
  • Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng ở các kỳ hạn dài sau thông báo về đợt mua lại.
  • Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm tăng lên mức 4,85%.
  • Lợi suất trái phiếu kỳ hạn 20 năm và 30 năm tăng lên khoảng 5,30%.

Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ đã tăng vào thứ Tư sau khi Bộ Tài chính Mỹ công bố kế hoạch mua lại 6 tỷ USD nợ chính phủ dài hạn, quy mô gấp ba lần so với hoạt động thường lệ.

Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm (mức chuẩn) tăng lên 4,85%, trong khi lợi suất trái phiếu kỳ hạn 30 năm tăng lên 5,30%. Ở các kỳ hạn khác, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 20 năm tăng lên 5,31%.

Hoạt động mua lại với quy mô lớn này nhằm mục đích hỗ trợ thanh khoản và đảm bảo sự vận hành trơn tru của thị trường trái phiếu chính phủ Mỹ. Động thái này diễn ra sau thông báo ngày 19 tháng 8 của Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, trong đó cho biết Bộ Tài chính sẽ tăng ít nhất gấp đôi khối lượng mua lại thông thường đối với các chứng khoán đã phát hành trước đó.

Đợt mua lại mới nhất tập trung vào các trái phiếu kỳ hạn 10 năm và 20 năm, diễn ra trong bối cảnh chi phí vay vốn dài hạn vẫn ở mức cao. Đợt mua lại với quy mô lớn bất thường này cũng thu hút sự chú ý khi lợi suất trái phiếu Kho bạc gần đây dao động ở các mức chưa từng thấy kể từ trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Việc mua lại có thể hỗ trợ thanh khoản cho các loại trái phiếu cũ, ít được giao dịch sôi động, và có khả năng giảm bớt phần nào áp lực lên thị trường trái phiếu. Tuy nhiên, lợi suất đã tăng sau thông báo hôm thứ Tư, cho thấy hoạt động với quy mô lớn hơn mức bình thường này vẫn chưa đủ để đảo ngược ngay lập tức áp lực bán đối với nợ chính phủ Mỹ kỳ hạn dài.

Lợi suất trái phiếu Kho bạc tăng tạo lực đỡ cho đồng Đô la Mỹ (USD), do mức sinh lời cao hơn từ các tài sản thu nhập cố định của Mỹ thường làm tăng sức hấp dẫn tương đối của chúng đối với các nhà đầu tư. Chỉ số Đô la Mỹ (DXY) đã phục hồi và xóa bỏ các mức giảm trước đó trong ngày thứ Tư, quay trở lại mức cân bằng quanh 98,85 vào thời điểm viết bài. Trong khi đó, lợi suất tăng gây áp lực lên giá vàng (XAU/USD) – loại tài sản không mang lại lợi suất định kỳ; vàng đã mất một phần đà tăng trong ngày và giao dịch quanh mức 4.391$ vào thời điểm đưa tin.

Câu hỏi thường gặp về Lãi suất Hoa Kỳ

Lãi suất do các tổ chức tài chính tính cho các khoản vay của người đi vay và được trả dưới dạng lãi suất cho người gửi tiền và người tiết kiệm. Lãi suất này chịu ảnh hưởng của lãi suất cho vay cơ bản, do các ngân hàng trung ương thiết lập để ứng phó với những thay đổi trong nền kinh tế. Các ngân hàng trung ương thường có nhiệm vụ đảm bảo ổn định giá cả, trong hầu hết các trường hợp có nghĩa là nhắm mục tiêu vào tỷ lệ lạm phát cơ bản khoảng 2%. Nếu lạm phát giảm xuống dưới mục tiêu, ngân hàng trung ương có thể cắt giảm lãi suất cho vay cơ bản, nhằm mục đích kích thích cho vay và thúc đẩy nền kinh tế. Nếu lạm phát tăng đáng kể trên 2%, thông thường ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất cho vay cơ bản để cố gắng hạ lạm phát.

Lãi suất cao hơn thường giúp tăng giá trị đồng tiền của một quốc gia vì chúng khiến quốc gia này trở thành nơi hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư toàn cầu để gửi tiền.

Lãi suất cao hơn nhìn chung sẽ gây áp lực lên giá Vàng vì làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ Vàng thay vì đầu tư vào tài sản có lãi hoặc gửi tiền mặt vào ngân hàng. Nếu lãi suất cao, điều này thường đẩy giá Đô la Mỹ (USD) lên cao và vì Vàng được định giá bằng Đô la, điều này có tác dụng làm giảm giá Vàng.

Lãi suất quỹ Fed là lãi suất qua đêm mà các ngân hàng Hoa Kỳ cho nhau vay. Đây là lãi suất tiêu đề thường được Cục Dự trữ Liên bang đưa ra tại các cuộc họp FOMC. Lãi suất này được thiết lập theo phạm vi, ví dụ 4,75%-5,00%, mặc dù giới hạn trên (trong trường hợp đó là 5,00%) là con số được trích dẫn. Kỳ vọng của thị trường đối với lãi suất quỹ Fed trong tương lai được theo dõi bởi công cụ CME FedWatch, công cụ này định hình cách nhiều thị trường tài chính hành xử khi dự đoán các quyết định về chính sách tiền tệ trong tương lai của Cục Dự trữ Liên bang.