- USD/IDR tiếp tục tăng giá khi đồng IDR vẫn bị áp lực giảm do các rủi ro kinh tế.
- Dòng vốn rút khỏi thị trường trái phiếu và chứng khoán Indonesia càng làm suy yếu đồng IDR.
- Nỗi lo lạm phát đẩy cược tăng lãi suất của Fed lên cao, củng cố đồng USD và cũng hỗ trợ cặp tiền này.
Cặp USD/IDR kéo dài xu hướng tăng đã được thiết lập gần đây và tiến lên mức cao kỷ lục mới, vượt qua mốc 17.700, vào đầu tuần mới.
Đồng Rupiah Indonesia (IDR) tiếp tục kém hiệu quả do các rủi ro kinh tế phát sinh từ cuộc xung đột đang diễn ra ở Trung Đông. Vì Indonesia là nước nhập khẩu Dầu ròng, sự tăng vọt giá năng lượng do chiến tranh đã làm tăng chi phí nhập khẩu và trợ cấp của quốc gia này. Điều này dẫn đến dòng vốn rút khỏi thị trường trái phiếu và chứng khoán Indonesia giữa những lo ngại về kế hoạch chi tiêu của chính phủ, tính minh bạch của thị trường và sự độc lập của ngân hàng trung ương.
Trong khi đó, Tổng thống Prabowo Subianto đã nói về sự yếu kém của đồng IDR và cho biết người dân ở các làng không bị ảnh hưởng vì họ không giao dịch bằng Đô la Mỹ (USD). Thực tế, Chỉ số USD (DXY), theo dõi đồng bạc xanh so với một rổ tiền tệ, đã tăng lên mức cao nhất trong sáu tuần giữa những lo ngại rằng sự tăng giá năng lượng do chiến tranh sẽ làm tái khởi động áp lực lạm phát và buộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) phải áp dụng lập trường diều hâu hơn.
Theo công cụ FedWatch của CME Group, các nhà giao dịch hiện đang định giá trên 50% khả năng ngân hàng trung ương Mỹ sẽ tăng chi phí vay vào cuối năm nay. Triển vọng vẫn hỗ trợ cho việc lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng cao và ủng hộ phe bò USD, cho thấy con đường ít trở ngại nhất đối với cặp USD/IDR là hướng lên. Do đó, bất kỳ đợt thoái lui điều chỉnh nào vẫn có thể được xem là cơ hội mua và được đệm giảm thiểu.
Câu hỏi thường gặp về Đô la Mỹ
Đô la Mỹ (USD) là tiền tệ chính thức của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và là tiền tệ 'trên thực tế' của một số lượng đáng kể các quốc gia khác nơi nó được lưu hành cùng với tiền giấy địa phương. Đây là loại tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm hơn 88% tổng doanh thu ngoại hối toàn cầu, tương đương trung bình 6,6 nghìn tỷ đô la giao dịch mỗi ngày, theo dữ liệu từ năm 2022. Sau Thế chiến thứ hai, USD đã thay thế Bảng Anh trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới. Trong phần lớn lịch sử của mình, Đô la Mỹ được hỗ trợ bởi Vàng, cho đến khi Thỏa thuận Bretton Woods năm 1971 khi Bản vị Vàng không còn nữa.
Yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá trị của đồng đô la Mỹ là chính sách tiền tệ, được định hình bởi Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Fed có hai nhiệm vụ: đạt được sự ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) và thúc đẩy việc làm đầy đủ. Công cụ chính của Fed để đạt được hai mục tiêu này là điều chỉnh lãi suất. Khi giá cả tăng quá nhanh và lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của Fed, Fed sẽ tăng lãi suất, điều này giúp giá trị của đồng đô la Mỹ tăng. Khi lạm phát giảm xuống dưới 2% hoặc Tỷ lệ thất nghiệp quá cao, Fed có thể hạ lãi suất, điều này gây áp lực lên đồng bạc xanh.
Trong những tình huống cực đoan, Cục Dự trữ Liên bang cũng có thể in thêm Đô la và ban hành nới lỏng định lượng (QE). QE là quá trình mà Fed tăng đáng kể dòng tín dụng trong một hệ thống tài chính bế tắc. Đây là một biện pháp chính sách không chuẩn được sử dụng khi tín dụng đã cạn kiệt vì các ngân hàng sẽ không cho nhau vay (vì sợ bên đối tác vỡ nợ). Đây là biện pháp cuối cùng khi việc chỉ đơn giản là hạ lãi suất không có khả năng đạt được kết quả cần thiết. Đây là vũ khí được Fed lựa chọn để chống lại cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó liên quan đến việc Fed in thêm Đô la và sử dụng chúng để mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ chủ yếu từ các tổ chức tài chính. QE thường dẫn đến đồng Đô la Mỹ yếu hơn.
Thắt chặt định lượng (QT) là quá trình ngược lại trong đó Cục Dự trữ Liên bang ngừng mua trái phiếu từ các tổ chức tài chính và không tái đầu tư vốn từ các trái phiếu mà họ nắm giữ đến hạn vào các giao dịch mua mới. Thông thường, điều này có lợi cho đồng đô la Mỹ.
